09 tháng 6 2010

Những câu chuyện cổ về quan hệ láng giềng tốt đẹp

Bài của Trí Chân

[MINH HUỆ 17-05-2010] Sống trong xã hội, ai cũng có quan hệ với người khác. Văn hóa truyền thống Trung Quốc coi trọng luân lý đạo đức khi đối xử trong quan hệ giữa người với người, bao gồm cả quan hệ hàng xóm. Tục ngữ có câu: “Người trong một nước đều là láng giềng nhân từ thân thiện của nhau, ấy là báu vật của quốc gia”. Còn có câu tục ngữ khác là: “Cứu giúp người gặp nạn, quan tâm đến hàng xóm láng giềng, đó cũng là Đạo. Người thuận theo Đạo thì có phúc”.

Người Trung Quốc xưa tin rằng đối xử tốt với người khác là một tiêu chuẩn cơ bản trong đời sống xã hội, và những người luôn làm việc tốt sẽ thực sự gặp may mắn. Có rất nhiều câu chuyện kể về những tấm gương cao cả luôn đối xử ân cần và khoan dung với người khác, giúp đỡ những ai đang trong cơn hoạn nạn. Sau đây là vài câu chuyện như vậy.

Đào Uyên Minh quyết định sống ở thôn Nam

Đào Uyên Minh (365- 427) là một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Tấn. Ông từng viết trong một bài thơ rằng: “Ta từng nghĩ đến chuyện định cư ở thôn Nam nhưng không phải bởi ta thích nhà cửa ở đó. Đó là bởi ta từng nghe đến những con người chân chất ở đó, và ta muốn sống cùng với họ”. Ông đã quyết định đến thôn Nam bởi ông thích những người dân làng thật thà tốt bụng ở đó.

Đào Uyên Minh bản thân cũng là một người mộc mạc chân thành. Ông làm ruộng mỗi ngày và viết thơ để bày tỏ nỗi lòng của mình. Ông hài lòng với cuộc sống đơn sơ giản dị, và ông vui thích được sống thuận theo Đạo.

Sau này ông miêu tả tình bạn hữu của ông với những người hàng xóm trong một bài thơ. “Chúng tôi thường sum họp với nhau, và mỗi người chúng tôi bày tỏ quan điểm của mình một cách cởi mở và thẳng thắn. Khi một người có được một bài viết hay, chúng tôi cùng nhau đọc; khi ai đó có câu hỏi hay nỗi băn khoăn, chúng tôi cùng nhau bàn luận”. Những người hàng xóm cùng giúp đỡ nhau và tận hưởng tình hữu hảo, tạo nên một bầu không khí tốt đẹp giúp cho mọi người nâng cao những giá trị đạo đức của mình.

Tư Mã Huy cho đi con lợn của mình

Tư Mã Huy thời Đông Hán là một học giả nổi tiếng. Ông rất giỏi trong việc phát hiện ra những nhân tài trẻ tuổi mà có đức. Một hôm, người hàng xóm của ông mất một con lợn. Thật trùng hợp thay, con lợn của Tư Mã Huy rất giống với con lợn bị mất ấy. Người hàng xóm lầm tưởng rằng con lợn của Tư Mã Huy là con lợn của anh ta. Tư Mã Huy không tranh cãi với anh ta, mà thay vào đó, ông nói: “Nếu nó là của anh, thì cứ lấy đi”. Người hàng xóm mang ngay con lợn về.

Vài ngày sau, người hàng xóm tìm thấy con lợn của mình ở một chỗ khác. Anh ta cảm thấy rất xấu hổ và mang con lợn trả lại cho Tư Mã Huy. Tư Mã Huy an ủi anh, nói rằng những nhầm lẫn như vậy là chuyện thường tình giữa hàng xóm với nhau. Hơn nữa, Tư Mã Huy còn khen ngợi anh ta vì đã hiểu ra chuyện và sẵn lòng sửa chữa lỗi làm. Người hàng xóm rất cảm động. Sau này, người ta gọi Tư Mã Huy là “Thủy Kính tiên sinh”. Đó là lời ngợi ca đức tính ngay thẳng và trong sáng như thủy tinh của ông.

Tử Nhữ Đạo khoan dung độ lượng với hàng xóm láng giềng

Tử Nhữ Đạo thời nhà Nguyên sống ở huyện Tề Hà thành Đức Châu thuộc tỉnh Sơn Đông. Ông luôn vui vẻ làm việc thiện, và nổi tiếng khắp quê nhà vì lòng tốt của mình. Một đồng hương của ông tên là Lưu Hiển và một số người nữa, quá nghèo khổ không tìm nổi kế sinh nhai. Tử Nhữ Đạo cắt cho họ mỗi người một mảnh ruộng, để họ có thể cho nông dân thuê mà kiếm chút tiền. Tử Nhữ Đạo lấy lại đất khi những người này qua đời. Một năm, khi bệnh dịch lan rộng, người ta nói rằng có một loại dưa hấu có thể chữa lành bệnh bằng cách khiến cho người ta ra mồ hôi như tắm. Tử Nhữ Đạo mua loại dưa đó với số lượng lớn, cùng với nhiều thực phẩm khác, và mạo hiểm bất chấp bệnh dịch để tự mình phân phát dưa tới từng nhà dân trong khu dịch bệnh. Vì thế ông đã cứu được rất nhiều người.

Nhiều khi vào mùa xuân, ông lấy lúa mì và cao lương đã xay của mình đem cho những người thiếu đói. Ông cho phép họ trả lại ông sau mùa thu hoạch mà không tính chút lợi tức nào. Nếu mùa màng thất bát và người ta không thu hoạch đủ để trả lại ông, Ti Nhữ Đạo sẽ đốt giấy nợ đi và bảo họ đừng bận tâm gì cả. Ông bảo gia quyến của mình rằng: “Tích trữ thóc lúa vốn là để phòng ngừa nạn đói. Vì thế, nếu gặp năm mùa màng thất bát, chúng ta phải giúp đỡ những người hàng xóm kém may mắn hơn”.

Dương Chứ bán lừa

Dương Chứ đời nhà Minh (1368- 1644) là quan thượng thư bộ Lễ. Ông thường cưỡi lừa tới triều đình hay bất cứ nơi nào ông cần đến. Ông rất yêu quý con lừa của mình. Mỗi ngày từ triều về nhà, ông lại tự mình cho lừa ăn và chăm sóc cẩn thận cho nó.

Hàng xóm của Dương Chứ là một người đàn ông đã đứng tuổi. Hai vợ chồng ông ta sinh được một mụn con trai khi đã gần 60 tuổi. Hai vợ chồng rất hạnh phúc vì rốt cuộc họ cũng có con lúc tuổi đã xế chiều. Tuy nhiên, đứa trẻ cứ khóc không ngừng mỗi lần nó nghe tiếng con lừa kêu be be, làm cho cả nhà khó chịu. Người hàng xóm không dám nói với Dương Chứ, bởi ông là một vị quan quyền cao chức trọng. Tuy nhiên, vì đứa trẻ khó chịu với con lừa và vì thế mà không chịu ăn, hai vợ chồng đến kể với Dương Chứ. Dương Chứ không chần chừ gì lập tức bán con lừa đi. Từ đó, khi ông lên triều hay đi đâu, ông chỉ đi bộ mà thôi.

Tục ngữ có câu, “Một người thực sự đẹp chỉ khi tâm của anh ta thiện”, “Quan hệ tốt với hàng xóm láng giềng”, và rằng “Một người tốt bụng và có đạo đức nếu mỗi lời nói và việc làm của người ấy đều nhằm mang lợi ích cho người khác”. Những câu tục ngữ này khuyên chúng ta hãy lấy Đạo và sự ngay thẳng làm tiêu chuẩn suy xét mọi chuyện. Chúng ta phải nghiêm khắc với bản thân mình và khoan dung độ lượng với người khác. Chúng ta phải có lòng từ tâm, biết thông cảm và sẵn sàng giúp đỡ, quan tâm đến người khác, và để tâm đến người khác như thể chính bản thân chúng ta ở trong cùng một hoàn cảnh như người mà chúng ta đang cố giúp đỡ.

Đây là thể hiện của đức hạnh loài người, cũng đồng thời là cách hướng dẫn cho người khác trở nên lương thiện tốt đẹp hơn. Làm như vậy, xã hội sẽ hài hòa, quan hệ nhân luân sẽ tràn ngập tình hữu hảo hòa thuận nồng ấm, làm cơ sở cho sự công chính của xã hội.
Bản tiếng Hán: http://minghui.org/mh/articles/2010/5/17/223843.html
Bản tiếng Anh: http://www.clearwisdom.net/html/articles/2010/6/3/117600.html
Đăng ngày 08-06-2010, bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai cho sát hơn với nguyên bản.

03 tháng 6 2010

Văn hóa Thần truyền: Nhan Hồi kính trọng Thầy

Bài của Trí Chân

[MINH HUỆ13-8-2008] Trong nền văn minh lâu đời hơn 5000 năm của dân tộc Trung Hoa thì các bậc Tôn Sư là những người đại diện cho nhân dân trong việc kế thừa và truyền thụ những truyền thống tốt đẹp và nếp sống đạo đức. Người xưa hết sức coi trọng vấn đề Tôn sư trọng đạo và Tu dưỡng phẩm hạnh, làm gương mẫu cho đời sau noi theo, mà Nhan Hồi chính là một người trong số đó. Nhan Hồi là người nước Lỗ thời Xuân Thu (từ nửa sau của thế kỷ 8 TCN đến nửa đầu thế kỷ thứ 5 TCN), ông tôn sùng Khổng Tử và đã lý giải sâu sắc học thuyết tư tưởng của Khổng Tử; hơn nữa suốt đời nỗ lực thực hành lời dạy của thầy, để đức hạnh lưu danh với đời.

Nhan Hồi tuy nhập cửa Khổng khá muộn, nhưng ông khiêm tốn và ham học, rất nhanh đã lĩnh hội được sự uyên thâm trong học thuyết của Khổng Tử. Ông nói: “Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên. Chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu! Phu tử tuần tuần nhiên thiện dụ nhân: bác ngã dĩ văn, ước ngã dĩ lễ. Dục bãi bất năng, ký kiệt ngô tài, như hữu sở lập trác nhĩ, tuy dục tòng chi, mạt do dã dĩ! “. Đại ý nghĩa là: “Thầy giảng đạo lý, càng học càng thấy cao thâm, càng nghiên cứu càng thấy ảo diệu. Đạo lý tuy cao thâm, thầy lại giỏi việc từng ly từng tí chỉ dẫn chúng ta, dùng các loại tri thức và văn hiến giúp kiến thức chúng ta thêm phong phú, khiến chúng ta được nâng cao, lại dùng Lễ Tiết để ràng buộc chúng ta; khiến cho chúng ta muốn ngừng học cũng không thể được. Tôi thông qua nỗ lực dường như cũng có thể lý giải và thực hành được đạo lý ấy, song nếu lại muốn tiến về phía trước một bước nữa, vẫn cần phải tiếp tục học tập và thực hành”. Lúc đó quan đại phu nước Lỗ tên là Thiếu Chính Mão và Khổng Tử đồng thời dạy học, cùng giành học trò. Thiếu Chính Mão lấy lòng mọi người, tuyên truyền học thuyết xằng bậy, làm rất nhiều học trò bị dao động, cuối cùng khiến cho “Cửa nhà Khổng Tử ba ngày trước đầy môn sinh, ba ngày sau không còn một ai”, chỉ có Nhan Hồi chưa từng rời đi nửa bước. Có người hỏi ông: “Ông sao không tới chỗ Thiếu Chính Mão mà học vậy?”. Nhan Hồi trả lời: “Một ngày làm thầy, suốt đời làm cha; vả lại học thức của Thầy là tuân theo mệnh Trời, khởi xướng lòng nhân đức, chỉ ra đạo chân chính để làm người, cũng đủ để chúng ta học rồi, việc gì phải đi đâu nữa?!”.

Nhan Hồi học tập hết sức khắc khổ. Nhưng dù điều kiện học tập rất gian khổ, ông lại có thể sống thanh bần vui với Đạo. Sớm làm tối nghỉ, ra sức học hành nghiên cứu Thi Lễ, toàn tâm theo đuổi sự nghiệp học tập, đem những lời thầy dạy ôn lại nhiều lần, có thể “học một biết mười”. Khổng Tử khen ngợi rằng: “Nhan Hồi thật tuyệt vời, mỗi bữa chỉ ăn một bát cơm, chỉ uống một bát canh; ở trong gian phòng đơn sơ; có thể nhẫn chịu được những gian khổ mà người khác không cách nào nhẫn chịu nổi, chí hướng cao xa của bản thân không mảy may thay đổi, kiên trì bền bỉ học tập, thật giỏi lắm!”. Nhan Hồi thấu hiểu hàm nghĩa của chữ “Nhân” mà Khổng Tử đề xướng, đồng thời hết lòng nỗ lực thực hành. Tính tình ông khiêm tốn “Không giận cá chém thớt, không tái phạm lỗi lầm”. Khổng Tử hỏi ông về đạo xử thế, ông nói: “Người nào thiện với trò, trò cũng thiện với người đó; người nào không thiện với trò, trò vẫn thiện với người đó”. Khổng Tử khen ngợi rằng: “Hồi dã, kỳ tâm tam nguyệt bất vi nhân, kỳ dư tắc nhật nguyệt chí yên nhi dĩ hĩ”, “Tự ngô hữu hồi, môn nhân ích thân”. (Tạm dịch: “Nhan Hồi trong tâm ba tháng không làm trái với đức Nhân; từ đó về sau thì luôn như vậy mà thôi”, “Từ khi ta có Nhan Hồi, học trò càng như người thân”).

Cả đời Khổng Tử khởi xướng nền chính trị nhân từ và đạo đức, Nhan Hồi đã xem chí hướng của thầy như chí hướng của mình mà suốt đời làm theo. Ông đi theo Khổng Tử chu du các nước, chủ trương phát huy nền chính trị nhân từ. Nhan Hồi hướng về một xã hội hài hòa, nơi mà “Việc giáo dục đạo đức được thịnh hành; vua và quần thần chung một lòng; trên và dưới hài hòa cân đối với nhau; đất nước thái bình, dân chúng bình an; người người đều nói lời nhân nghĩa và có quy củ; không có công sự phòng thủ hay thành quách; càng không có nỗi lo buồn về chiến tranh ”, hơn nữa cho rằng phải đạt được đường lối chính trị nhân từ lấy Đức làm căn bản, bằng cách giáo dục dân chúng về đạo đức và Lễ Nhạc. Nhan Hồi kiên định lòng tin, quyết chí truyền bá đạo nghĩa, bất kể hoàn cảnh gian nan như thế nào, cũng phải “làm được những việc khó làm”.

Khi Khổng Tử bị vây hãm tại nước Trần và nước Thái, không còn lương thực, tình cảnh vô cùng khó khăn. Có đệ tử bắt đầu bàn tán, tư tưởng hơi dao động; chỉ có Nhan Hồi bình tĩnh tự nhiên, cung kính “đặt rau ngoài cửa” (mang tới một ít rau đặt ở trước cửa Khổng Tử), tỏ lòng kính trọng và không rời xa thầy. Ông nói: “Đạo lý của Thầy đã đạt đến cảnh giới cực cao, cho nên không được một số người tiếp nhận. Cho dù như vậy Thầy vẫn dốc hết sức để phổ biến rộng rãi, lấy tâm nhân đức hòng cứu trăm họ trong cơn nước sôi lửa bỏng. Tuy rằng gặp ngăn trở và đố kị, không một ai tiếp nhận, nhưng có làm tổn hại Đạo lý của Thầy được đâu? Có thể đây chính là sự quý báu của đạo đó! Trong bất kì hoàn cảnh nào cũng có thể giữ vững chính đạo không dao động, phải là bậc quân tử mới có thể làm được vậy. Không tu dưỡng chính đạo là nỗi nhục của chúng ta. Chúng ta đã truyền bá chính đạo, lại không được một số người chấp thuận, thì đó là điều sỉ nhục của họ”. Khổng Tử nghe được rất vui mừng nói: “Nhan Hồi có những kiến thức như vậy quả là quá tốt! Cỏ Chi và cỏ Lan sinh ở rừng sâu, không vì không có người mà không thơm; quân tử tu Đạo xây dựng Đức, không vì khốn cùng mà thay đổi khí tiết”. Nhan Hồi gặp khó khăn mà không mất đức, đi theo Khổng Tử thực hành nhân nghĩa trong thiên hạ, nghị lực ấy khiến người ta phải kính nể. Từ đó về sau, “Đặt rau” đã trở thành lễ nghi để tỏ lòng tôn kính Thầy, thịnh hành tại Trung Quốc và còn lưu truyền hậu thế.

Nhan Hồi tuân thủ nghiêm ngặt lời dạy của thầy, tu thân lập đức, chế ngự dục vọng bản thân, khiến cho lời nói và việc làm phù hợp với yêu cầu của Lễ mà đạt đến cảnh giới của Nhân, xem việc thiên hạ là nhiệm vụ của mình. Lòng tôn kính Thầy cùng với tinh thần dũng cảm theo đuổi chân lý đã khích lệ người đời sau, lưu lại giá trị văn hóa quý báu và phong phú cho hậu thế.
Bản tiếng Hán: http://minghui.org/mh/articles/2008/8/13/184014.html
Bản tiếng Anh: http://www.clearwisdom.net/emh/articles/2008/9/8/100478.html
Đăng ngày 02-06-2010; Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai cho sát hơn với nguyên bản.